Khám Phá Giải Pháp Đột Phá Cho Kỹ Năng Đọc Hiểu Cùng Daily Reading #17

Trong hành trình tiếp cận các tài liệu học thuật chuyên sâu hay miệt mài ôn luyện chinh phục các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế, kỹ năng Đọc hiểu (Reading) luôn mang đến không ít thử thách. Thực tế cho thấy, rất nhiều người học đang vô tình bị mắc kẹt trong những rào cản cố hữu của phương pháp truyền thống. Chúng ta thường xuyên rơi vào trạng thái choáng ngợp và bối rối trước những văn bản mang lượng thông tin dày đặc cùng cấu trúc câu phức tạp. Thêm vào đó, thói quen học từ vựng một cách máy móc, tách rời khỏi văn cảnh khiến não bộ không kịp thích nghi, dẫn đến việc nhanh chóng quên lãng chỉ sau một thời gian ngắn. Chính những vướng mắc này là nguyên nhân cốt lõi khiến điểm số Reading mãi giậm chân tại chỗ, bất chấp việc bạn đã đầu tư biết bao thời gian và công sức để cày cuốc giải đề.

Thấu hiểu hoàn toàn những khó khăn đó, IELTS Master – Engonow English mang đến cho bạn chuỗi bài đọc được thiết kế bài bản để kiến tạo lại tư duy ngôn ngữ. Hôm nay, mời các bạn cùng chúng tôi bước vào hành trình phân tích và chinh phục [Daily Reading #17]. Qua một chủ đề sinh học đầy lôi cuốn về Otters (Loài rái cá), chúng ta sẽ không chỉ phá bỏ giới hạn của kỹ năng đọc hiểu mà còn cùng nhau tích lũy một kho tàng từ vựng học thuật vô cùng giá trị.

trananhkhang.com

  • Daily reading
  • Daily reading
  • Daily reading
  • Daily reading
  • Daily reading
  • Daily reading
  • Daily reading

Bài đọc:

English:

Otters are semiaquatic (or in the case of the sea otter, aquatic) mammals. They are members of the Mustelid family which includes badgers, polecats, martens, weasels, stoats and minks, and have inhabited the earth for the last 30 million years and over the years have undergone subtle changes to the carnivore bodies to exploit the rich aquatic environment. Otters have long thin body and short legs—ideal for pushing dense undergrowth or hunting in tunnels. An adult male may be up to 4 feet long and 30 pounds. Females are smaller, around 16 pounds typically. The Eurasian otter’s nose is about the smallest among the otter species and has a characteristic shape described as a shallow “W”. An otter’s tail (or rudder, or stern) is stout at the base and tapers towards the tip where it flattens. This forms part of the propulsion unit when swimming fast under water. Otter fur consists of two types of hair: stout guard hairs which form a waterproof outer covering, and under-fur which is dense and fine, equivalent to an otter’s thermal underwear. The fur must be kept in good condition by grooming. Sea water reduces the waterproofing and insulating qualities of otter fur when salt water gets in the fur. This is why freshwater pools are important to otters living on the coast:. After swimming, they wash the salts off in the pools and then squirm on the ground to rub dry against vegetation.

Scent is used for hunting on land, for communication and for detecting danger. Otterine sense of smell is likely to be similar in sensitivity to dogs. Otters have small eyes and are probably short-sighted on land. But they do have the ability to modify the shape of the lens in the eye to make it more spherical, and hence overcome the refraction of water. In clear water and good light, otters can hunt fish by sight. The otter’s eyes and nostrils arc placed high on its head so that it can see and breathe even when the rest of the body is submerged. The long whiskers growing around the muzzle are used to detect the presence of fish. They detect regular vibrations caused by the beat of the fish’s tail as it swims away. This allows otters to hunt even in very murky water. Underwater, the otter holds its legs against the body, except for steering, and the hind end of the body is flexed in a series of vertical undulations. River otters have webbing which extends for much of the length of each digit, though not to the very end. Giant otters and sea otters have even more prominent webs, while the Asian short-clawed otter has no webbing—they hunt for shrimps in ditches and paddy fields so they don’t need the swimming speed. Otter ears are protected by valves which close them against water pressure.

A number of constraints and preferences limit suitable habitats for otters. Water is a must and the rivers must be large enough to support a healthy population of fish. Being such shy and wary creatures, they will prefer territories where man’s activities do not impinge greatly. Of course, there must also be no other otter already in residence—this has only become significant again recently as populations start to recover. A typical range for a male river otter might be 25km of river, a female’s range less than half this. However, the productivity of the river affects this hugely and one study found male ranges between 12 and 80km. Coastal otters have a much more abundant food supply and ranges for males and females may be just a few kilometers of coastline. Because male ranges are usually larger, a male otter may find his range overlaps with two or three females. Otters will eat anything that they can get hold of—there are records of sparrows and snakes and slugs being gobbled. Apart from fish the most common prey are crayfish, crabs and water birds. Small mammals are occasionally taken, most commonly rabbits but sometimes even moles.

Eurasian otters will breed any time where food is readily available. In places where condition is more severe, Sweden for example where the lakes are frozen for much of winter, cubs are born in Spring. This ensures that they are well grown before severe weather returns. In the Shetlands, cubs are born in summer when fish is more abundant. Though otters can breed every year, some do not. Again, this depends on food availability. Other factors such as food range and quality of the female may have an effect. Gestation for Eurasian otter is 63 days, with the exception of North American river otter whose embryos may undergo delayed implantation.

Otters normally give birth in more secure dens to avoid disturbances. Nests are lined with bedding (reeds, waterside plants, grass) to keep the cubs warm while mummy is away feeding. Litter Size varies between 1 and 5 (2 or 3 being the most common). For some unknown reason, coastal otters tend to produce smaller litters. At five weeks they open their eyes—a tiny cub of 700g. At seven weeks they’re weaned onto solid food. At ten weeks they leave the nest, blinking into daylight for the first time. After three months they finally meet the water and learn to swim. After eight months they are hunting, though the mother still provides a lot of food herself. Finally, after nine months she can chase them all away with a clear conscience, and relax—until the next fella shows up.

The plight of the British otter was recognised in the early 60s, but it wasn’t until the late 70s that the chief cause was discovered. Pesticides, such as dieldrin and aldrin, were first used in ‘1955 in agriculture and other industries—these chemicals are very persistent and had already been recognised as the cause of huge declines in the population of peregrine falcons, sparrowhawks and other predators. The pesticides entered the river systems and the food chain—micro- organisms, fish and finally otters, with every step increasing the concentration of the chemicals. From 1962 the chemicals were phased out, but while some species recovered quickly, otter numbers did not—and continued to fall into the 80s. This was probably due mainly to habitat destruction and road deaths. Acting on populations fragmented by the sudden decimation in the 50s and 60s, the loss of just a handful of otters in one area can make an entire population enviable and spell the end.

Otter numbers are recovering all around Britain—populations are growing again in the few areas where they had remained and have expanded from those areas into the rest of the country. This is almost entirely due to law and conservation efforts, slowing down and reversing the destruction of suitable otter habitat and reintroductions from captive breeding programs. Releasing captive- bred otters is seen by many as a last resort. The argument runs that where there is no suitable habitat for them they will not survive after release and when1 there is suitable habitat;, natural populations should be able to expand into the area. However, reintroducing animals into a fragmented and fragile population may add just enough impetus for it to stabilise and expand, rather than die out. This is what the Otter Trust accomplished in Norfolk, where the otter population may have been as low as twenty animals at the beginning of the 1980s. The Otter Trust has now finished its captive breeding program entirely. Great news because it means it is no longer’ needed.

Vietnamese:

Rái cá là động vật có vú bán thủy sinh (hoặc thủy sinh hoàn toàn, trong trường hợp của rái cá biển). Chúng là thành viên của họ Chồn (Mustelid) bao gồm lửng, chồn hôi, chồn mác-tét, chồn sương, chồn ec-min và chồn vizon. Chúng đã sinh sống trên Trái đất trong suốt 30 triệu năm qua và qua nhiều năm đã trải qua những thay đổi tinh tế trên cơ thể của một loài động vật ăn thịt để khai thác môi trường thủy sinh trù phú. Rái cá có thân hình thon dài và đôi chân ngắn—rất lý tưởng để len lỏi qua các bụi rậm rạp hoặc săn mồi trong các hang đào. Một con đực trưởng thành có thể dài tới 4 feet (khoảng 1,2 mét) và nặng 30 pound (khoảng 13,6 kg). Con cái nhỏ hơn, thường nặng khoảng 16 pound. Chiếc mũi của rái cá Á-Âu thuộc loại nhỏ nhất trong số các loài rái cá và có hình dáng đặc trưng được mô tả giống như một chữ “W” nông. Đuôi của rái cá (còn được ví như bánh lái, hay phần đuôi tàu) to bè ở phần gốc và thon dần về phía chóp đuôi, nơi nó dẹt lại. Bộ phận này tạo thành một phần của hệ thống tạo lực đẩy khi chúng bơi nhanh dưới nước. Lông rái cá bao gồm hai loại: lớp lông bảo vệ cứng cáp bên ngoài tạo thành một lớp phủ chống thấm nước, và lớp lông tơ bên trong dày đặc và mịn màng, đóng vai trò như bộ đồ lót giữ nhiệt của rái cá. Bộ lông phải được duy trì trong tình trạng tốt thông qua việc chải chuốt. Nước biển làm giảm khả năng chống thấm và cách nhiệt của lông rái cá khi nước mặn ngấm vào lớp lông. Đây là lý do tại sao các vũng nước ngọt lại rất quan trọng đối với rái cá sống ở ven biển: Sau khi bơi, chúng gột sạch muối ở các vũng nước ngọt này, sau đó trườn quằn quại trên mặt đất để cọ xát cơ thể vào thảm thực vật cho khô ráo.

Khứu giác được sử dụng để săn mồi trên cạn, giao tiếp và phát hiện nguy hiểm. Độ nhạy bén khứu giác của loài rái cá có khả năng tương đương với loài chó. Rái cá có đôi mắt nhỏ và có lẽ bị cận thị khi ở trên cạn. Nhưng chúng có khả năng thay đổi hình dạng thủy tinh thể trong mắt để làm cho nó có hình cầu hơn, qua đó khắc phục được sự khúc xạ của nước. Trong vùng nước trong và điều kiện ánh sáng tốt, rái cá có thể săn cá bằng thị giác. Mắt và lỗ mũi của rái cá được đặt ở vị trí cao trên đỉnh đầu để chúng có thể nhìn và thở ngay cả khi phần còn lại của cơ thể chìm dưới nước. Những sợi râu dài mọc quanh mõm được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của cá. Chúng nhận biết những rung động đều đặn do nhịp đập từ đuôi cá tạo ra khi con cá bơi tẩu thoát. Điều này cho phép rái cá săn mồi ngay cả trong vùng nước rất đục. Khi ở dưới nước, rái cá áp sát chân vào thân mình, ngoại trừ lúc dùng để chuyển hướng, và phần thân sau của chúng uốn lượn liên tục theo chiều dọc. Rái cá sông có lớp màng chân kéo dài dọc theo phần lớn chiều dài của mỗi ngón chân, mặc dù không kéo dài đến tận đầu ngón. Rái cá khổng lồ và rái cá biển có màng chân nổi bật hơn nữa, trong khi rái cá vuốt bé châu Á lại hoàn toàn không có màng chân—chúng thường săn tôm trong các mương nước và ruộng lúa nên không cần đến tốc độ bơi lội nhanh. Tai rái cá được bảo vệ bởi các van, chúng sẽ đóng lại để chống lại áp suất của nước.

Một số yếu tố hạn chế và sở thích làm giới hạn các môi trường sống phù hợp đối với rái cá. Nước là yếu tố bắt buộc và các con sông phải đủ lớn để duy trì một quần thể cá khỏe mạnh. Vốn là loài sinh vật nhút nhát và đầy cảnh giác, chúng sẽ ưa thích những vùng lãnh thổ nơi các hoạt động của con người không tác động nhiều. Đương nhiên, tại đó cũng không được có con rái cá nào khác đang cư trú—điều này mới chỉ trở nên đáng chú ý trở lại trong thời gian gần đây khi các quần thể bắt đầu phục hồi. Phạm vi hoạt động điển hình của một con rái cá sông đực có thể là 25km chiều dài dòng sông, trong khi phạm vi của con cái thường chưa bằng một nửa con số này. Tuy nhiên, mức độ trù phú của con sông ảnh hưởng rất lớn đến điều này và một nghiên cứu đã phát hiện ra phạm vi hoạt động của con đực dao động từ 12 đến 80km. Rái cá ven biển có nguồn cung cấp thức ăn dồi dào hơn nhiều, vì vậy phạm vi hoạt động của cả con đực lẫn con cái có thể chỉ là vài km dọc theo đường bờ biển. Vì lãnh thổ của con đực thường lớn hơn, một con rái cá đực có thể có phạm vi hoạt động trùng lặp với hai hoặc ba con cái. Rái cá sẽ ăn bất cứ thứ gì chúng vồ được—đã có những ghi nhận về việc chúng ngấu nghiến cả chim sẻ, rắn và sên. Ngoài cá, những con mồi phổ biến nhất của chúng là tôm càng, cua và chim nước. Chúng cũng thỉnh thoảng bắt các loài động vật có vú nhỏ, phổ biến nhất là thỏ nhưng đôi khi có cả chuột chũi.

Rái cá Á-Âu sẽ sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào khi có sẵn nguồn thức ăn. Ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt hơn, ví dụ như ở Thụy Điển nơi các hồ nước bị đóng băng phần lớn thời gian trong mùa đông, rái cá con sẽ được sinh ra vào mùa xuân. Điều này đảm bảo rằng chúng đã phát triển đủ cứng cáp trước khi thời tiết khắc nghiệt quay trở lại. Ở quần đảo Shetland, rái cá con được sinh ra vào mùa hè khi nguồn cá dồi dào hơn. Mặc dù rái cá có thể sinh sản hàng năm, nhưng một số con lại không như vậy. Một lần nữa, điều này phụ thuộc vào mức độ sẵn có của nguồn thức ăn. Các yếu tố khác như phạm vi tìm kiếm thức ăn và tình trạng sức khỏe của con cái cũng có thể tác động đến việc này. Thời kỳ mang thai của rái cá Á-Âu là 63 ngày, ngoại trừ loài rái cá sông Bắc Mỹ có thể trải qua giai đoạn cấy phôi thai bị trì hoãn (phôi thai làm tổ muộn).

Rái cá thường sinh con trong các hang ổ kiên cố, an toàn hơn để tránh bị quấy rầy. Tổ được lót bằng các lớp đệm (sậy, thực vật ven bờ, cỏ) để giữ ấm cho đàn con trong khi rái cá mẹ đi kiếm ăn. Quy mô mỗi lứa đẻ dao động từ 1 đến 5 con (trong đó 2 hoặc 3 con là phổ biến nhất). Vì một lý do chưa rõ nào đó, rái cá ven biển thường đẻ ít con hơn. Đến năm tuần tuổi, chúng mới mở mắt—khi đó chỉ là một chú rái cá con bé xíu nặng 700 gram. Ở tuần thứ bảy, chúng được cai sữa và chuyển sang thức ăn đặc. Đến tuần thứ mười, chúng rời tổ, nheo mắt nhìn ánh sáng ban ngày lần đầu tiên. Sau ba tháng, cuối cùng chúng cũng được tiếp xúc với nước và học bơi. Sau tám tháng, chúng bắt đầu tự đi săn, mặc dù rái cá mẹ vẫn đích thân cung cấp cho chúng rất nhiều thức ăn. Cuối cùng, sau chín tháng, mẹ rái cá có thể đuổi tất cả đàn con đi mà lương tâm không hề cắn rứt, và tận hưởng sự nghỉ ngơi—cho đến khi “anh chàng” tiếp theo xuất hiện.

Tình trạng khốn đốn của loài rái cá ở Anh đã được nhận thức vào đầu thập niên 60, nhưng mãi đến cuối thập niên 70, nguyên nhân chính mới được khám phá ra. Các loại thuốc trừ sâu, như dieldrin và aldrin, lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1955 trong nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác—những hóa chất này cực kỳ bền vững (rất khó phân hủy) và đã từng được xác định là nguyên nhân gây ra sự sụt giảm số lượng khổng lồ ở quần thể chim cắt lớn, chim ưng bồ câu và các loài động vật săn mồi khác. Thuốc trừ sâu xâm nhập vào hệ thống sông ngòi và chuỗi thức ăn—từ các vi sinh vật, đến cá và cuối cùng là rái cá, với nồng độ hóa chất ngày càng gia tăng qua từng cấp bậc. Từ năm 1962, các hóa chất này đã bị loại bỏ dần, nhưng trong khi một số loài nhanh chóng hồi phục, số lượng rái cá thì không—và tiếp tục sụt giảm cho đến tận những năm 80. Điều này có lẽ chủ yếu là do sự tàn phá môi trường sống và tử vong do tai nạn giao thông trên đường. Tác động lên các quần thể vốn đã bị phân mảnh do đợt suy giảm số lượng đột ngột vào thập niên 50 và 60, việc mất đi chỉ một số ít cá thể rái cá ở một khu vực có thể khiến toàn bộ quần thể không thể tồn tại và dẫn đến bờ vực diệt vong.

Số lượng rái cá hiện đang trên đà phục hồi trên khắp nước Anh—các quần thể đang phát triển trở lại ở một vài khu vực nơi chúng từng sống sót và đã mở rộng từ những khu vực đó ra toàn bộ phần còn lại của đất nước. Điều này gần như hoàn toàn là nhờ vào luật pháp và các nỗ lực bảo tồn, nhằm làm chậm lại và đảo ngược sự phá hủy môi trường sống phù hợp với rái cá, cùng với việc tái thả từ các chương trình nhân giống nuôi nhốt. Việc thả những con rái cá được nhân giống nuôi nhốt được nhiều người xem là phương sách cuối cùng. Lập luận được đưa ra là: ở nơi nào không có môi trường sống phù hợp, chúng sẽ không thể sống sót sau khi được thả; và khi đã có môi trường sống thích hợp, các quần thể tự nhiên hẳn sẽ có khả năng tự mở rộng vào khu vực đó. Tuy nhiên, việc tái thả động vật vào một quần thể phân tán và mong manh có thể bổ sung vừa đủ động lực để quần thể đó ổn định và mở rộng, thay vì chết mòn. Đây chính là điều mà tổ chức Otter Trust đã đạt được ở Norfolk, nơi quần thể rái cá có thể từng xuống thấp ở mức 20 con vào đầu những năm 1980. Hiện tại, tổ chức Otter Trust đã hoàn toàn kết thúc chương trình nhân giống nuôi nhốt của mình. Đây là một tin tuyệt vời vì điều đó có nghĩa là chương trình này không còn cần thiết nữa.

Từ vựng nổi bật:

  1. Mammal /ˈmæm.əl/ (Động vật có vú): Rái cá là động vật có vú bán thủy sinh.
  2. Carnivore /ˈkɑːr.nə.vɔːr/ (Động vật ăn thịt): Cơ thể của động vật ăn thịt thay đổi để thích nghi.
  3. Propulsion /prəˈpʌl.ʃən/ (Lực đẩy, sự đẩy tới): Đuôi của rái cá tạo thành một bộ phận tạo lực đẩy.
  4. Vegetation /ˌvedʒ.əˈteɪ.ʃən/ (Thảm thực vật, cây cối): Chúng cọ xát vào thảm thực vật để lau khô người.
  5. Refraction /rɪˈfræk.ʃən/ (Sự khúc xạ ánh sáng): Khắc phục sự khúc xạ ánh sáng dưới nước.
  6. Vibration /vaɪˈbreɪ.ʃən/ (Sự rung động): Râu phát hiện sự rung động do đuôi cá tạo ra.
  7. Undulation /ˌʌn.dʒəˈleɪ.ʃən/ (Sự uốn lượn, chuyển động gợn sóng): Cơ thể linh hoạt uốn lượn theo chiều dọc.
  8. Constraint /kənˈstreɪnt/ (Sự ràng buộc, yếu tố hạn chế): Những hạn chế làm thu hẹp môi trường sống phù hợp.
  9. Habitat /ˈhæb.ə.tæt/ (Môi trường sống): Môi trường sống phù hợp cho rái cá.
  10. Gestation /dʒesˈteɪ.ʃən/ (Thời kỳ thai nghén): Thời kỳ thai nghén của rái cá Á-Âu là 63 ngày.
  11. Embryo /ˈem.bri.oʊ/ (Phôi thai): Phôi thai của rái cá sông Bắc Mỹ.
  12. Pesticide /ˈpes.tə.saɪd/ (Thuốc trừ sâu): Thuốc trừ sâu ngấm vào hệ thống sông ngòi.
  13. Decimation /ˌdes.əˈmeɪ.ʃən/ (Sự suy giảm nghiêm trọng, sự tàn sát): Sự sụt giảm số lượng lớn đột ngột vào thập niên 50, 60.
  14. Conservation /ˌkɑːn.sɚˈveɪ.ʃən/ (Sự bảo tồn): Kết quả của luật pháp và các nỗ lực bảo tồn.
  15. Impetus /ˈɪm.pɪ.təs/ (Động lực, sự thúc đẩy): Tạo thêm động lực để quần thể ổn định và mở rộng.
  16. Inhabit /ɪnˈhæb.ɪt/ (Cư trú, sinh sống): Cư trú trên trái đất trong 30 triệu năm qua.
  17. Exploit /ɪkˈsplɔɪt/ (Khai thác, tận dụng): Tận dụng môi trường thủy sinh trù phú.
  18. Submerge /səbˈmɜːrdʒ/ (Chìm, lặn xuống nước): Vẫn nhìn và thở được khi phần còn lại của cơ thể chìm.
  19. Impinge /ɪmˈpɪndʒ/ (Tác động, ảnh hưởng xấu): Lãnh thổ nơi hoạt động của con người không tác động nhiều.
  20. Wean /wiːn/ (Cai sữa): Đứa con được cai sữa và chuyển sang ăn thức ăn đặc.
  21. Stabilise /ˈsteɪ.bə.laɪz/ (Ổn định): Giúp quần thể động vật ổn định trở lại.
  22. Recover /rɪˈkʌv.ɚ/ (Phục hồi): Quần thể rái cá đang dần phục hồi.
  23. Aquatic /əˈkwæt.ɪk/ (Sống dưới nước, thuộc về nước): Môi trường dưới nước (thủy sinh).
  24. Dense /dens/ (Dày đặc, rậm rạp): Đi xuyên qua các bụi cây rậm rạp hoặc lớp lông tơ dày đặc.
  25. Spherical /ˈsfer.ɪ.kəl/ (Có hình cầu): Sửa đổi hình dạng thủy tinh thể thành hình cầu hơn.
  26. Murky /ˈmɜːr.ki/ (Đục, tối tăm): Giúp rái cá săn mồi ngay cả trong vùng nước rất đục.
  27. Prominent /ˈprɑː.mə.nənt/ (Nổi bật, nhô ra, rõ ràng): Có màng chân nổi rõ và rộng hơn.
  28. Abundant /əˈbʌn.dənt/ (Dồi dào, phong phú): Nguồn thức ăn dồi dào hơn ở vùng ven biển.
  29. Persistent /pɚˈsɪs.tənt/ (Dai dẳng, tồn tại lâu, khó phân hủy): Các hóa chất này (thuốc trừ sâu) rất khó phân hủy.
  30. Fragile /ˈfrædʒ.əl/ (Mong manh, dễ tổn thương): Đưa động vật trở lại một quần thể mong manh.

IELTS Master powered by Engonow
Enlighten Your Goal Now.
Quận 6 – Bình Tân, TP HCM / Online toàn cầu.
engonow.edu.vn

Xem thêm: [DAILY READING #12] “RUNNING DRY”

Related Posts

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Địa chỉ

119 – 120 Phùng Tá Chu, P. An Lạc, TP. Hồ Chí Minh.

107 đường số 5, P. An Lạc, TP. Hồ Chí Minh.

117/15S Hồ Văn Long, P. Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh.

Giờ làm việc

Thứ Hai – Thứ Sáu: từ 17:00 đến 21:00

Thứ Bảy – Chủ Nhật: từ 08:00 đến 19:30